HOẠT ĐỘNG NUÔI TÔM VÀ NHỮNG NGUY HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG |
Không chỉ tại Việt Nam mà ngay cả tại nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Philippine, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia hoạt động nuôi tôm đã tạo ra một sự chuyển đổi hiệu quả và đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nông dân.
Tuy nhiên, một nghiên cứu của Tổ chức Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) về hoạt động nuôi tôm tại các nước ven Thái Bình Dương đã đưa ra một cảnh báo về sự suy giảm của ngành này trong khu vực. Sự suy giảm của ngành công nghiệp nuôi tôm xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Mức độ tăng trưởng chậm của thị trường tiêu thụ
- Hệ số chuyển đổi thức ăn thấp
- Sự xuất hiện và có chiều hướng tăng lên của một số bệnh dịch lây lan trong môi trường
- Mực nước ngầm trong khu vực bị hạ thấp do bơm nước ngọt quá mức
- Môi trường bị xuống cấp trong các khu vực nuôi tôm công nghiệp
- Chi phí thức ăn cao so với hiệu quả nuôi tôm
- Biến động giá tôm trên thị trường
- Chất lượng trại nuôi con giống kém
- Chất lượng thức ăn kém
- Chất lượng nguồn nước kém
- Thiếu sự hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân
- Tốc độ sản xuất hàng năm giảm sút
Hiện
nay, trên 80% sản lượng tôm trên thế giới là từ nguồn tôm nuôi
công nghiệp với các giống tôm chính như tôm sú, tôm thẻ, tôm
thẻ đỏ đuôi. Các loài tôm này phần lớn được nuôi tại các
nước Đông Nam Á, Nam Á, Trung và Nam Mỹ. Số liệu thống kê cho
biết tổng số lượng trại nuôi tôm trên thế giới là khoảng
380,000 trại nuôi, chiếm khoảng 1.25 triệu ha, với sản lượng hàng
năm từ 50 tới 10,000 kg /ha. Hoạt động nuôi tôm bao gồm nuôi
quảng canh, bán thâm canh và thâm canh.
Việc tăng trưởng nhanh chóng của hoạt động nuôi tôm trong hai
thập niên gần đây đã mang lại một sự mở rộng diện tích nuôi
tôm trên toàn cầu, nhưng cũng làm thay đổi nhanh chóng công nghệ
nuôi trồng thủy sản. những công nghệ kỹ thuật tân tiến xuất
hiện khá rõ nét trong hoạt động nuôi con giống, xây dựng công
thức cho thức ăn, và kỹ thuật cho ăn.
Tuy nhiên xu hướng tăng trưởng của hoạt động nuôi tôm trong
thập kỷ 80 đã không còn tiếp tục sang thập niên 90 và bắt đầu
có những giao động từ giữa thập niên 90 cho tới ngày nay.
Những vấn đề xuất hiện và ngăn cản sự phát triển của
hoạt động nuôi tôm bao gồm bùng phát bệnh dịch do virus, sự
xuống cấp của môi trường, triệt phá rừng ngập mặn, thiếu
hụt các trại nuôi tôm giống có chất lượng. Ngoài ra, việc thay
đổi môi trường tự nhiên ven biển đã làm xuất hiện những lo
ngại liên quan tới chất lượng nước và đất, sự cân bằng môi
trường.
Ô nhiễm liên quan đến ao nuôi tôm
Công nghệ nuôi tôm bắt đầu tư những năm 80 với việc phát triển kỹ thuật nuôi con giống nhân tạo một cách hiệu quả. Từ đó hoạt động nuôi tôm có sự chuyển đổi từ nuôi quảng canh, bán thâm canh sang nuôi thâm canh. Kỹ thuật nuôi thâm canh bao gồm:
- Tăng mât độ thả (trung bình 250,000 đến 500,000 con giống trên 1 ha)
- Sự phụ thuộc lớn vào các trại nuôi con giống
- Phụ thuộc vào thức ăn chế biến
- Sử dụng hệ thống quạt khí
- Tăng chu kỳ trao đổi nước.
Càng tăng cường hoạt động nuôi thâm canh thì nhu cầu quản lý môi trường nuôi càng cần thiết. Mức độ hủy hoại môi trường nuôi bên trong ao nuôi và bên ngoài xuất phát từ các nguyên nhân sau:
- Mật độ nuôi cao
- Sử dụng nhiều thức ăn chế biến sẵn
- Các ao bố trí dầy đặc bên cạnh nhau dọc theo miền duyên hải
- Không có ao xử lý nước trước khi đưa vào ao nuôi
- Tăng chu kỳ thay nước
- Chu kỳ làm sạch ao chưa hiệu quả
- Mức độ bài tiết của con tôm tăng lên.
Ô nhiễm do việc sử dụng thuốc và các hóa chất trong nuôi tôm
Phần lớn sản phẩm dư thừa trong nuôi tôm đã tích tụ dưới
đáy ao. Đây chính là nguồn gây nguy hại cho con tôm và cho hoạt
động nuôi tôm. Lớp bùn đáy ao này rất độc, thiếu ôxy và
chứa nhiều chất độc như ammonia, nitrite, hydrogen sulfide. Con tôm
luôn có xu hướng tránh khỏi vùng này và tập trung vào những khu
vực sạch sẽ hơn. Do việc tập trung vào một vùng sẽ làm giảm
bớt diện tích cho ăn, cũng như tăng tính cạnh tranh trong khi ăn.
Nếu như toàn bộ đáy ao bị dơ bẩn thì con tôm bị bắt buộc
phải sống trong môi trường ô nhiễm. Lớp bùn dơ bẩn còn tác động
lên nước trong ao nuôi làm giám chất lượng nước.
Chất lượng nước và chất lượng đáy ao dơ bẩn sẽ tác động
trực tiếp tới con tôm. Con tôm luôn bị căng thẳng, thể hiện
qua việc kém ăn, mức tăng trưởng giảm và dễ bị mắc bệnh do
vi khuẩn như Vibriosis. Và dẫn đến việc tôm chết hàng loạt.
Phần lớn các bệnh của con tôm đều có nguồn gốc từ môi trường
mà chúng sinh sống.
Môi trường bên ngoài trại nuôi tôm, chất thải dơ bẩn thường
không được quản lý tốt sẽ làm ảnh hưởng tới hệ sinh thái
ven biển. Điều này không chỉ tác động lên môi trường đất mà
còn lên các giá trị tài nguyên ven biển, bao gồm cả các trại nuôi
tôm. Việc tái sử dụng ao bị ô nhiễm hay đổ đống ra môi trường
xung quanh sẽ tạo điều kiện làm cho nguồn nước ô nhiễm và tác
động lên các hoạt động ven biển.
Tại một số nơi hoạt động nuôi tôm đem lại kết quả rất
tốt trong một vài năm, nhưng rồi bắt đầu một thời kỳ sa sút
trầm trọng dẫn đến phá sản mà nguyên nhân chủ yếu liên quan
các mầm bệnh trong môi trường nuôi.
Thông thường nhà nông dùng kháng sinh để trị bệnh, nhưng việc
đó không giải quyết được vấn đề cốt yếu. Hiện nay, việc
áp dụng công nghệ sinh học và các chế phẩm sinh học để gìn
giữ và cải thiện năng suất nuôi đã được chấp thuận rộng rãi
như một phương thức chữa trị hiệu quả, rẻ tiền và tốt hơn
nhiều so với việc sử dụng kháng sinh. Chế phẩm sinh học và
việc quản lý cho ăn ở một mức độ lớn là một phương cách
kiểm soát mầm bệnh trong các ao nuôi tôm. Chẳng hạn khi sử
dụng vi khuẩn Bacillus sp. như chế phẩm sinh học đã tăng thời
gian nuôi lên gấp đôi so với ao nuôi không sử dụng chế phẩm
sinh học và bị nhiễm bệnh Vibrio harveyi. Tại ao có sử dụng
chế phẩm sinh học thì mức phát sáng do vi khuẩn V. harveyi thấp
hay gần như triệt tiêu và cho một kết quả thu hoạch rất tốt.
Việc bổ sung thêm Bacillus sp. đã đem lại lợi ích cho tôm trong
việc chống bệnh phát sáng (Vibriosis) và khỏe mạnh hơn và dẫn
tới việc tăng sản lượng nuôi. Chế phẩm sinh học còn chứa
axit lactic (Lactobacillus và Carnobacterium sp.) là một loại vi khuẩn
hứa hẹn có tác dụng chống lại mầm bệnh và cung cấp một
nguồn kích thích miễn dịch. Carnobacterium divergens là một loại
chế phẩm sinh học tiềm năng khác có tác dụng làm giảm áp lực
gây bệnh của vi khuẩn Vibrio anguillarum. Các lợi ích khác của
chế phẩm sinh học bao gồm:
- Tăng cường vi thực vật đường ruột
- Cung cấp axit amino căn bản và vitamin từ vi thực vật đường ruột
- Tăng khả năng hấp thụ vitamin và chất khoáng
- Nâng cao hệ số tiêu thụ thức ăn
- Nâng cao năng suất và sản lượng
- Tăng số vụ nuôi
- Loại bỏ việc sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng
- Cải thiện môi trường nuôi giảm tỷ lệ mắc bệnh.
Nghiên
cứu của Trung tâm Phát triển Thủy sản Đông Nam Á (SEAFDEC) cho
thấy: Hiệu quả của chế phẩm men vi sinh dựa vào số lượng bào
tử vi khuẩn tồn tại vào thời điểm mà chế phẩm men vi sinh
được đem sử dụng tại ao nuôi. Như vậy vào thời điểm sử
dụng trong ao phải có trên một tỷ bào tử vi khuẩn tồn tại
trong một gram hay một mili lít thì sản phẩm mới có hiệu quả.
Những chế phẩm men vi sinh có số lượng bào tử vi khuẩn thấp
thường được đóng gói dạng lỏng. Bởi vì hệ số tồn tại
của bào tử bị giảm đi nhanh chóng trong quá trình vận chuyển và
lưu kho đối với các sản phẩm ở dạng lỏng, và chúng có thời
hạn sử dụng dưới ba tháng.
|
Cong Ty Cong Nghe Sinh Hoc ATC B6-D2 Van Thanh Bac, P. 25, Quan Binh Thanh, TP Ho Chi Minh |