Đọc báo: ... Thủy sản Nông nghiệp Môi trường sống

 

Liên kết sản xuất cá sạch, không lo thừa hàng, rớt giá
Ngày cập nhật trên web Việt Linh: 27/9/2005
Nguồn tin: BCT, 27/9/2005

Ông Ngô Phước Hậu – Chủ tịch Ủy ban Cá nước ngọt VASEP, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần XNK thủy sản An Giang: Liên kết sản xuất cá sạch, không lo thừa hàng, rớt giá

Thời gian qua có nhiều nguyên nhân làm cho cá tra, ba sa ĐBSCL rớt giá và dội hàng, ngư dân lao đao. Cụ thể, nhiều lô hàng xuất khẩu phát hiện nhiễm kháng sinh hoặc nghi nhiễm bị trả về đang làm người nuôi và các doanh nghiệp đứng trước thách thức lớn. Sản xuất cá sạch theo tiêu chuẩn quốc tế đang là nhu cầu cấp thiết. Phóng viên Báo Cần Thơ có cuộc phỏng vấn ông Ngô Phước Hậu - Chủ tịch Ủy ban Cá nước ngọt VASEP, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần XNK thủy sản An Giang (AGIFISH) về vấn đề này.

Ông đánh giá thế nào về tình hình phát triển xuất khẩu cá tra, ba sa trong những tháng đầu năm?

- Nói chung việc xuất khẩu cá tra, ba sa của ĐBSCL nói chung và của An Giang nói riêng vẫn tiếp tục tăng trưởng, sản lượng xuất khẩu tăng 47% so với cùng kỳ. Tuy nhiên do giá suất bình quân giảm nên giá trị kim ngạch chỉ tăng có 25%. Nhưng vậy, chúng ta đang tăng trưởng nhưng không ổn định và bền vững. Chính sự phát triển tự phát cùng với những rào cản về kỹ thuật-chất lượng, pháp lý đã ảnh hưởng đến việc sản xuất và tiêu thụ. Các nước như: Mỹ, Canada tăng cường kiểm tra dư lượng các chất kháng sinh bị cấm, nếu phát hiện trả về và danh sách công ty bị cảnh báo trên toàn thế giới đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình xuất khẩu. Còn tại châu Âu rào cản vi sinh và kháng sinh cũng rất nghiêm ngặt, từ đó đặt ra cho người nuôi và nhà máy chế biến một thách thức rất lớn. Đó là phải tổ chức sản xuất lại, phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của các nước nhập khẩu thì mới có thể phát triển bền vững.

Thời gian qua, vấn đề phát triển bền vững được nói rất nhiều, nhưng việc thực hiện vẫn chưa có gì khả quan. Theo ông thì thời gian tới cần phải làm gì?

- Chúng ta đã đứng vào hàng thứ 4 về các nước nuôi trồng thủy sản trên thế giới làm nhiều nước ngạc nhiên. Đặc biệt, trong đó cá tra, ba sa là một trong những sản phẩm có tốc độ tăng nhanh nhất. Chúng ta tăng nhanh nhưng không bền vững do nuôi tự phát. Các biện pháp về quản lý nhà nước, tổ chức sản xuất chưa đồng bộ dẫn đến hệ quả hiện nay. Theo tôi quan trọng nhất vẫn là tổ chức lại sản xuất, thông qua đó quản lý chất lượng từ ao nuôi đến bàn ăn. Vấn đề con giống phải được hết sức chú ý. Thời gian qua chúng ta còn bỏ ngỏ, số hộ làm giống ồ ạt, vì lợi nhuận họ đã sử dụng kháng sinh, hóa chất bị cấm. Đây chính là khâu sơ hở trong xây dựng mô hình sản xuất trong thời gian qua.

Do đó, để có cá sạch phải bắt nguồn từ con giống sạch. Công ty AGIFISH, đang thành lập liên hợp sản xuất cá sạch. Đây là tổ chức tập hợp những người đã sản xuất cá đạt tiêu chuẩn SQF 1000. Ngoài ra cũng kết hợp xây dựng các trung tâm giống đạt tiêu chuẩn SQF 1000 từ đó sẽ quản lý tốt giống cá bố mẹ, tránh việc lai giống tạo đồng huyết hoặc làm thoái hóa đàn giống như hiện nay. Tiếp đó là liên kết với các hệ thống cung cấp thức ăn đạt tiêu chuẩn ISO hoặc SQF, các nhà máy sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn. Đặc biệt là đưa ra danh mục thuốc được phép sử dụng song hành với danh mục các loại thuốc thú y bị cấm. Khuyến cáo bà con trước khi thu hoạch 3 tuần tuyệt đối không sử dụng kháng sinh, hóa chất kể cả những chất được phép sử dụng để đáp ứng những yêu cầu khắt khe về chất lượng.

Thời gian qua, mình đang xây dựng hình ảnh cá tra, ba sa đẹp thông qua sản phẩm cá sạch. Do đó, ngoài ý thức bà con còn phải biết về những biện pháp quản lý về chất lượng. Hiện UBND tỉnh, Sở NN&PTNT và Bộ Thủy sản đang tổ chức nhiều lớp huấn luyện về chương trình quản lý chất lượng SQF 1000 cho ngư dân, công ty AGIFISH có 19 hộ dân đạt tiêu chuẩn chất lượng SQF 1000 và công ty có nhà máy chế biến theo tiêu chuẩn SQF 2000 . Đây là vấn đề hết sức quan trọng nói lên một mối liên kết mới đang dần định hình. Liên kết theo hệ thống quản lý chất lượng.

Quá trình thực hiện liên kết này được chuẩn bị ra sao, thưa ông?

- Trước mắt chúng tôi tập hợp những hội viên có sản lượng lớn. Các hộ này có điều kiện áp dụng SQF và sản lượng bước đầu đáp ứng 2/3 yêu cầu. Đã có 19 hộ đạt tiêu chuẩn SQF và 20 hộ dự bị sẽ tiếp tục đào tạo để đạt tiêu chuẩn. Nói vậy không phải các hộ nhỏ không thực hiện được. Các hộ nhỏ phải biết liên kết lại, thành một vùng nuôi lớn để áp dụng SQF. Trước mắt sẽ chấp nhận số hội viên không nhiều nhưng sản lượng lớn. Ước tính hàng năm có khoảng 50.000 tấn cá sạch để đáp ứng nhu cầu công ty. Tương lai phải nhân rộng ra vì đây là cái tất yếu để phát triển nghề nuôi. Hình thức này thật sự nâng lên tầm cao mới trong liên kết giữa doanh nghiệp và ngư dân.

Như vậy cách liên kết này liệu có mang lại hiệu quả cao?

- Mô hình liên kết này cũng có những thách thức rất lớn. Thứ nhất là môi trường thường do nguyên nhân bên ngoài tác động vào. Để xây dựng liên hợp sạch này chúng tôi đang quy hoạch những vùng nuôi an toàn, cố gắng giữ những tiêu chuẩn về chất lượng theo SQF. Hiện nay, chúng tôi đang bị tác động của môi trường từ nước thải của hộ dân cư, nước thải từ nông nghiệp và bản thân các cơ sở nuôi do đó vai trò quản lý môi trường của Nhà nước là rất quan trọng. Ngoài sản phẩm cá xuất khẩu, các loại cá nuôi tiêu thụ nội địa như: rô phi, he, chim trắng… cũng phải từng bước thực hiện theo tiêu chuẩn giống như cá xuất khẩu. Như thế là tôn trọng sức khỏe người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi sẽ đặt vấn đề với Nhà nước. Theo đó ký hợp đồng hai chiều giữa Sở Tài nguyên - Môi trường với từng vùng nuôi. Qua đó kiểm tra lấy mẫu định kỳ phát hiện các tiêu chuẩn hóa, lý, kịp thời xử lý các trường hợp vượt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh. Nguyên nhân thứ hai là ở từng khâu chưa tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quản lí chất lượng mà chương trình SQF đề ra. Vẫn còn tìm cách đối phó hoặc hình thức, khi thực hiện chương trình liên kết này sẽ thường xuyên kiểm tra từng khâu của sản phẩm để có biện pháp ngăn chặn. Phát hiện sẽ cảnh báo trên toàn hệ thống. Sau ba lần kiểm tra nếu bảo đảm an toàn mới cấp giấy phép. Loại khỏi hệ thống sản xuất những trường hợp không bảo đảm an toàn. Chúng tôi kiên quyết thực hiện để tạo sản phẩm cá sạch thật sự.

Từ thực tế thị trường thời gian qua, nếu có hệ thống quản lý chất lượng tốt sẽ mở ra một thị trường rộng, bán được vào các hệ thống phân phối lớn, cụ thể là Mỹ. Hiện thị trường Mỹ có 5 tập đoàn sẵn sàng mua sản phẩm cá tra, ba sa của chúng ta để đưa vào hệ thống phân phối nhà hàng, siêu thị nhưng phải đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt.

Đứng về phía nhà chế biến xuất khẩu, ông có khuyến cáo gì với cho bà con nuôi trồng thủy sản?

- Chúng ta đang trong tình trạng thừa và thiếu nguyên liệu. Thừa cá phát hiện nhiễm kháng sinh, hóa chất cấm. Thiếu cá sạch, đúng quy cách. Đây là vấn đề nhức nhối mà trách nhiệm không chỉ riêng của ngư dân mà là của các nhà máy chế biến. Chúng tôi mong muốn liên kết để giải quyết tốt bài toán cung cầu trên cơ sở những sản phẩm cá sạch, đáp ứng nhu cầu thị trường. Nếu chúng ta làm tốt khâu quản lý chất lượng thì sẽ không lo không bán được, giá thấp.

Như vậy, tốc độ phát triển thủy sản từ đây đến 2010 tùy thuộc vào vai trò tổ chức sản xuất lại của chúng ta, từ khâu con giống, thức ăn, sử dụng thuốc, nuôi chế biến… và phải giải quyết tốt thị trường.

Dường như chúng ta quá tập trung cho xuất khẩu mà bỏ ngỏ thị trường nội địa. Ý kiến của ông như thế nào?

- Có nhiều công ty đã làm 5 năm nay, kênh phân phối từ Bắc chí Nam. Tuy nhiên việc tiêu thụ sản phẩm tại thị trường trong nước cực kỳ khó vì sức mua còn thấp. Sản phẩm qua chế biến nên giá trị tăng, kén chọn người mua. Để có một kênh phân phối ổn định thì đòi hỏi ở công nghệ dự trữ và hiện nay chỉ có các siêu thị lớn mới đầu tư nổi. Do đó kênh phân phối phải đi liền với công nghệ bảo quản nhưng khi có công nghệ bảo quản thì giá thành sẽ tăng. Ngoài ra do tập quán chúng ta chưa quen ăn sản phẩm đông lạnh. Hiện thị phần nội địa của AGIFISH chỉ chiếm 10%/doanh thu. Dù kinh doanh nội địa không có lãi nhưng nhiều công ty vẫn làm để chiếm thị phần. Các doanh nghiệp chú trọng thị trường nội địa như đầu tư cho kế hoạch lâu dài.

AFA đang đề xuất phương hướng này, nhưng đây là liên kết những doanh nghiệp nhỏ, mới ra để cùng nhau xây dựng thị trường nội địa. Đây là một hướng tốt vì các doanh nghiệp mới ra chưa có hệ thống phân phối hàng nội địa.

Chúng ta đang xây dựng thương hiệu cho con cá tra, ba sa Việt Nam nhưng công việc còn quá chậm?

- Đây là hướng đi đúng, nhằm xây dựng một thương hiệu chung cho cá tra, ba sa Việt Nam nhưng thực hiện quá chậm. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp lớn cũng đã xây dựng thương hiệu cho riêng mình. Đánh vào thị trường nội địa cũng là cách xây dựng thương hiệu đỡ tốn chi phí nhất và phù hợp với việc xây dựng thương hiệu của từng công ty. Còn xuất khẩu để xây dựng thương hiệu là cực kỳ khó. Sản phẩm thủy sản của chúng ta còn bán dưới dạng nguyên liệu nhiều, các nhà xuất khẩu muốn mang thương hiệu của họ. Công việc này phải lâu dài và đầu tư rất tốn kém.

Chúng tôi hy vọng sẽ xây dựng một hình ảnh cá tra, ba sa đã được quản lý tốt, bảo đảm an toàn cho người sử dụng. Đây là một cách xây dựng thương hiệu chung cho cá tra, ba sa Việt Nam.

Trong việc thành lập liên hợp sản xuất cá tra, ba sa sạch, dường như công ty AGIFISH vẫn còn đơn lẻ?

- Khi xây dựng liên hợp này thì chúng tôi xác định quyền lợi chung là hàng đầu. Nếu thành công thì công ty nổi tiếng hơn và thị trường ngày một lớn. Chính vì thế nó sẽ hài hòa giữa cái chung và cái riêng. Còn chuyện đơn lẻ thì không vì đây là bước đột phá. Muốn nền công nghiệp phát triển bền vững phải xung phong đi đầu. Trước đây là thị trường nội địa chẳng hạn chúng tôi cũng xung phong. Nếu mình thấy trước thì sẽ có một lợi thế cạnh tranh.

Xin cảm ơn ông!

BÌNH NGUYÊN (thực hiện)

 


Gửi ý kiến, góp ý đến Việt Linh


Các tin mới:

Xem các tin khác