Thông
tin kĩ thuật dành cho người nuôi cá basa và cá
tra
Phần
1: Những điều kiện thuận lợi để phát triển
nghề nuôi cá tra và basa trong bè
(NXB Nông
Nghiệp)
Phần
1: Những điều kiện thuận lợi để phát triển
nghề nuôi cá tra và basa trong bè Phần
2: Kĩ thuật nuôi cá tra và
cá basa trong bè
Phần
3: Một số bệnh thường
gặp và cách phòng trị khi nuôi cá tra và cá basa
trong bè
NHỮNG ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI ĐỂ PHÁT TRIỂN
NUÔI CÁ TRA VÀ BASA TRONG BÈ
- Chất lượng và dòng chảy của sông Tiền và sông Hậu (sông Cửu
Long - ĐBSCL) thích hợp cho việc nuôi cá bè
- Yếu tố thuận lợi về nguồn thức ăn, nguồn giống tự nhiên
- Kinh nghiệm nuôi bè được tích lũy qua nhiều năm
của nhân dân địa phương.
- Cá tra và cá basa cũng đã
có được thị trường xuất khẩu với nhu cầu
số lượng lớn.
I - ĐIỀU KIỆN THỦY VĂN VÀ CHẤT LƯỢNG
NƯỚC:
Lưu lượng: vào mùa mưa lũ, lưu lượng nước sông Cửu Long
dao động từ 18.8000 m3/giây đến 48.700 m3/giây (số liệu đo tại Phnôm Pênh -
Campuchia), cao gấp 9-23 lần so với lưu lượng vào mùa khô.
Vận tốc dòng chảy: vào mùa
lũ 0,5-0,6m/giây, ở mùa khô 0,1 - 0,2m/giây. Vận tốc nước chảy qua bè đặt
gần bờ sẽ thấp hơn giá trị này. Từ bờ ra lòng sông khoảng 50m, người ta có thể đặt 2
-3 hàng bè nối nhau.
Nhiệt độ: nước biến thiên không nhiều,
cao nhất là 310C vào tháng 5 và tháng 10, thấp nhất 260C vào tháng giêng.
Biên độ chênh lệch trong ngày khoảng 1,5 độ C, nhiệt độ trên tầng mặt cao hơn
dưới đáy 2 - 30C
Độ trong và pH: trong mùa khô, độ trong của nước từ 40 - 60 cm và pH khoảng 7,5.
Mùa mưa, độ trong chỉ 8-10cm và pH nước sông khá ổn định là đặc điểm
rất có lợi cho đời sống của thủy sinh vật và cá.
Độ cứng: dao động từ 2-5 độ (độ Đức), chủ yếu được
hình thành trên cơ sở muối cacbonat canxi và thuộc dạng nước ít muối khoáng.
Các
chất khí hòa tan: ở sông Tiền và sông Hậu nước
tương đối thoáng sạch, dưỡng khí đầy đủ (4,3 - 9,7 mg/lít), hàm lượng khí
cacbonic thấp (1,7 - 5,2mg/lít) nghĩa là nằm dưới giới hạn có hại đối với cá và
sinh vật dưới nước. Ngoài ra không có các khí độc trong nước sông
II NGUỒN THỨC ĂN
Nuôi cá bè là hình thức nuôi công nghiệp, chủ động
và có tính tập trung. Tại các khu vực nuôi bè cá tra và basa tập trung hiện
nay (chủ yếu ở An Giang và Đồng Tháp) nguồn nguyên liệu làm thức ăn cho cá rất phong
phú. Khu vực tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, đất đai màu mỡ, thích hợp cho
canh tác các loại nông sản và là nguồn cung cấp chủ yếu nguyên liệu nông sản để
chế biến thức ăn cho cá nuôi bè (cám, tấm, đậu, bắp...) Một thuận lợi nữa là
vào cuối mùa gió Tây - Nam hàng năm (sau đỉnh lũ) nước sông từ thượng nguồn đổ
xiết về hạ lưu và mang về nguồn lợi cá tự nhiên rất dồi dào cả về số lượng lẫn
chủng loại. Nhiều nhất là cá linh (Labeobarb siamensis) và nhiều loại cá tự
nhiên khác. Ngoài nguồn cá tự nhiên nước ngọt, các loại cá tạp đánh bắt từ biển
Rạch Giá được chuyển đến khu vực nuôi bè với đoạn đường ngắn, giá cả phù hợp và
thường xuyên. Ngoài ra, điều kiện giao thông thủy và bộ thuận tiện cũng giúp cho
việc vận chuyển nguyên vật liệu chế biến thức ăn cho cá được dễ dàng và kịp
thời.
III. CÁ GIỐNG PHỤC VỤ CHO NGHỀ
NUÔI:
Nhiều năm trước đây và cả đến khi nuôi cá bè thịnh
hành và phát triển, con giống cung cấp cho nuôi trong bè chủ yếu được vớt từ
thiên nhiên, trên sông Cửu Long. Các loài nuôi trong bè đều thuộc nhóm cá địa
phương, sống trong sông và các thủy vực nước ngọt. Đa số chúng đều thích hợp với
môi trường nước chảy.
Hàng năm vào mùa mưa, các bột các loài được vớt trên sông
và ương nuôi trong ao, hầm thành cá giống và cung cấp cho các bè
nuôi. Cá tra và basa cũng được vớt trên sông như các loài
cá khác. Hàng năm có khoảng từ 200 - 500 triệu bột cá tra được vớt và ương nuôi,
sau đó cá giống được chuyển đi bán cho người nuôi khắp các tỉnh Nam bộ và cho
nuôi bè tại chỗ. Riêng cá basa thì hoàn toàn phải thu gom cỡ cá giống từ sông
(bằng câu, lưới) và phần lớn phải mua từ Campuchia. Mỗi năm nhu cầu với một số
lượng giống cá basa từ 10 - 15 triệu con.
Hiện nay đã chủ động cho sinh sản nhân tạo 2 loài
cá trên. Trong năm 1999 các địa phương đã cho đẻ nhân tạo được 500 triệu bột cá
tra, do đó giảm hẳn nghề vớt cá tra trên sông và trong tương lai một vài năm tới
có thể hoàn toàn bãi bỏ việc vớt cá tra tự nhiên.
Đối với cá basa cũng đang từng
bước nâng cao sản lượng cá bột sinh sản nhân tạo. Năm 1999 cá đẻ nhân tạo mới
chỉ cung cấp được khoảng 10% nhu cầu về cá giống nuôi. Hy vọng trong một số năm
tới chúng ta sẽ chủ động hoàn toàn về nguồn giống loài cá này.
VIETLINH
PTE. Official
Homepage