Đánh giá diễn biến chất lượng nước trong các ao nuôi tôm vùng ven biển tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu.


 

Lê Thị Siêng và CS

(Tuyển tập kết quả Khoa học công nghệ năm 2003 – Viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam).

THÔNG TIN TÓM TẮT  KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT SỐ 01/2004

 

Theo báo cáo thống kê, diện tích nuôi tôm ở 2 tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau chiếm khoảng 70 % tổng diện tích nuôi tôm trong cả nước. Trong quá trình nuôi, các chất thải trong nuôi trồng thường bị thải trực tiếp ra hệ thống kênh rạch, ý thức vệ sinh môi trường của nhân dân trong vùng còn kém dẫn đến suy thoái môi trường làm ảnh hưởng đến việc phát triển nuôi tôm.

Nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu, với phương thức thu mẫu nước trên các kênh rạch, trong các ao nuôi tôm và nước thải của các khu vực nuôi tôm. Các chỉ số ôxy hoà tan, pH, nhiệt độ, độ mặn, độ đục được đo trực tiếp ngoài hiện trường, thực vật phù du cũng được phân tích. Từ đó rút ra kết luận đồng thời cũng đưa ra khuyến cáo như sau:

- Hàm lượng cặn không tan và hàm lượng sắt trong nước trên các kênh rạch trong vùng vượt tiêu chuẩn cho phép vì vậy không nên lấy trực tiếp vào ao nuôi tôm;

- Trong các mô hình nuôi tôm theo phương thức công nghiệp đã thấy hiện tượng ô nhiễm bởi các hợp chất hữu cơ; các chỉ số COD, BOD trong các ao nuôi công nghiệp cao hơn so với ao nuôi theo phương thức quảng canh và quảng canh cải tiến do vậy cần có các biện pháp khắc phục như thường xuyên bơm hút bùn dưới đáy ao nuôi công nghiệp để giảm lượng thức ăn thừa trong lớp bùn lỏng đáy ao;

- Có 133 loài và dưới loài thuỷ sinh thuộc 5 ngành tảo trong đó tảo Silic chiếm ưu thế (66,91%), các loài tương đối phong phú đáp ứng cho yêu cầu thuỷ sản trong vùng. Có sự khác biệt về sự phân bố thành phần loài và sinh vật lượng giữa ao nuôi theo phương thức công nghiệp và quảng canh và kênh dẫn. Thành phần loài và sinh vật lượng trong các ao nuôi công nghiệp phân bố theo quy luật của các thuỷ vực giàu dinh dưỡng.