|
Thông tin kĩ thuật dành cho người sản xuất tôm sú giống
Phần 6: Kỹ thuật nuôi ấu trùng
1. Yêu cầu chung:
Trong qui trình sản xuất tôm sú giống, kỹ thuật quản lý chăm
sóc bể ương ấu trùng đóng vai trò đặc biệt quan, có ý nghĩa
quyết định sự thành công hay thất bại trong sản xuất. Vì vậy,
đòi hỏi kỹ thuật viên phải nắm đầy đủ và vận dụng
tốt những yêu cầu kỹ thuật của quy trình đề ra như:
- Nắm được những đặc điểm sinh học cơ bản của tôm sú cần
thiết cho sản xuất giống (về hình thái các giai đoạn ấu trùng,
điều kiện môi trường sống, tính ăn trong từng giai đoạn..v.v..),
kỹ thuật sử lý nguồn nước, kỹ thuật sản xuất thức ăn tự
nhiên (tảo), kỹ thuật sản xuất thức ăn chế biến, kỹ thuật
sử dụng thức ăn tươi sống (Artemia) để thực hiện quy trình một
cách chặt chẽ và đồng bộ.
- Thành thạo các thao tác kỹ thuật trong qua trình sản xuất như:
Xử lý, thuần hóa và thả Nauplius, cách cho ăn, chăm sóc, vệ sinh
thay nước, kiểm tra tình trạng sức khỏe và sự phát triển của
ấu trùng, vận hành sản xuất kịp thời điều chỉnh một số vấn
đề thường xảy ra trong quá trình nuôi.
2. Các bước tiến hành:
2.1
Chuẩn bị nước thả Nauplius
(Xem phần xử lý
nước)
Trại
sản xuất giống đã được chuẩn bị sẵn sàng cho sản xuất, nước
được cấp trước khi thả ấu trùng 1 ngày, khoảng 60% dung tích
bể nuôi, sau đó cấp thêm từ từ ở giai đọan Zoae 2 và Zoae 3.
2.2 Chuẩn bị thức ăn:
Thức ăn nuôi ấu trùng gồm nhiều loại phù hợp với từng
giai đoạn ấu trùng khác nhau như tảo tươi, tảo khô, thức ăn tổng
hợp, thức ăn chế biến, Artemia.
Hiện nay trên thị có nhiều loại thức ăn tổng hợp dạng vi
nang được dùng bổ sung thay thế một phần hoặc thay thế toàn bộ
thức ăn tươi tự nhiên như (AP0 Frippak, No, Lansy - tảo khô) cho kết quả tốt. Đây là một nhuận
lợi cho người sản xuất điều chỉnh khi thiếu thức ăn tự nhiên.
Tuy nhiên nên kết hợp thức ăn tự nhiên và thức ăn tổng hợp
khô để nuôi ấu trùng thì hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn, chất
lượng con giống tốt hơn.
Tảo tươi là thành phần thức ăn bắt buộc trong giai đoạn
Zoae 1 - Zoae 3 và được duy trì cho đến cuối giai đoạn Mysis.
2.3 Mật độ nuôi ấu trùng
Mật độ nuôi ấu trùng được tính cho toàn bộ 100% dung dịch
bể nuôi. Mật độ ấu trùng thưa sẽ dư thừa thức ăn, mật độ
nuôi quá dày thỉ sẽ khó chăm sóc, chất lượng tôm giống kém.
Nên nuôi với mật độ từ 90-130 ấu trùng/lít.
2.4 Thuần hóa, xử lý và thả ấu trùng (Nauplius)
Ấu trùng trước khi đưa vào thả nuôi cần được cân bằng
các yếu tố môi trường (nhiệt độ, nồng độ muối...) giữa
nơi sản xuất ấu trùng và trại ương. Việc cân bằng nhiệt độ
được thực hiện bằng cách ngâm cả bao đựng cả Nauplius vào bể
đến khi nhiệt độ nước trong bao và trong bể nuôi bằng nhau. Nếu
môi trường chênh lệch không lớn lắm có thể thả Nauplius vào
thùng, chậu, duy trì sục khí lấy nước trong bể nuôi thêm từ từ
cho đến khi nhiệt độ cân bằng nhau.
- Xử lý ấu trùng: Nên xử lý ấu trùng trước khi thả vào bể
nuôi để ngăn ngừa mầm bệnh. Cách xử lý tắm ấu trùng trong nước
có chứa formalin nồng độ 200 - 300ppm (200 - 300ml formallin/1m3nước)trong thời gian 30 giây hoặc tắm
bằng Iodphor nồng độ 0,1ppm trong 15 phút (lưu ý cách tính toán -
pha nồng độ các hóa chất xử lý). Trong quá trình thuần hóa, xử
lý, cần thay đổi toàn bộ nước đựng ấu trùng từ trại tôm mẹ,
mọi thao tác phải được thực hiện nhanh gọn, nhẹ nhàng, hạn
chế tối đa việc đưa ấu trùng ra khỏi môi trường nước.
2.5 Quản lý bể nuôi ấu trùng.
Đòi hỏi kỹ thuật viên vận dụng lịch
chăm sóc chính xác và đầu tư thời gian thích đáng để kiểm
tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động sống và phát triển của ấu
trùng, thực hiện nghiêm ngặt các bước chăm sóc và có những điều
chỉnh khi cần thiết.
2.5.1 Chăm sóc Nauplius:
Giai đoạn ấu trùng Nauplius dinh dưỡng noãn
hoàn nên chưa phảicung cấp thức ăn. Việc chăm so`c chỉ cần cấp
sục khí nhẹ, đều, không để ấu trùng chìm xuống đáy bể và
thường xuyên quan sát khi thấy xuất hiện ấu trùng Zoae thì bắt
đầu cho ăn.
2.5.2 Chăm sóc ấu trùng Zoae:
Ở giai đoạn này, ấu trùng có tính ăn lọc
liên tục, vì vậy mật độ tảo trong bể nuôi phải được duy trì
thường xuyên (theo bảng 1), mõi ngày cho ăn 4-5 lần tảo tươi. Tảo
được cho ăn từ giai đoạn Zoae 1 tăng dần dần ở cuối
Zoae 1 đến Zoae 2, tăng tối đa ở giai đoạn Zoae 3 và giảm dần
ở giai đoạn Mysis.
Trong giai đoạn Zoae 2, Zoae 3 có thể bổ sung
thêm tảo khô, thức ăn tổng hợp 2-3 lần/ngày. Chú ý thường xuyên
theo dõi trong bể ương lượng thức ăn thừa hay thiếu để điều
chỉnh. Phải xi - phông ngay mỗi khi nhận thấy phân ấu trùng đã
vón cục chìm xuống đáy tránh gây ô nhiễm nước nuôi trong
giai đoạn này ta chỉ cần thêm nước.
2.5.3 Chăm sóc ấu trùng Mysis
Ấu trùng giai đoạn này có tập tính bắt mồi
chủ động, thức ăn là động vật phù du. Hiện nay thức ăn sử
dụng để nuôi ấu trùng Mysis chủ yếu là ấu trùng Artemia, đây
là thức ăn thích hợp nhất và thuận tiện cho người sử dụng.
Thức ăn tổng hợp được bổ sung xen kẽ với Artemia. Lượng cho
ăn được trình bày trong bảng 1.
Mõi ngày cho ăn khoảng 6-8 lần (chia đều thời
gian và lượng thức ăn trong 2 ngày, chú ý tính toán lượng thức
ăn sao cho vừa đủ, nếu dư thừa sẽ gây lãng phí và dễ gây ô
nhiễm môi trường nuôi (ấu trùng Artemia nếu dư thừa chúng sẽ
tiếp tục phát triển trở thành sinh vật cạnh tranh với ấu
trùng tôm về thức ăn và dưỡng khí).
Ấu trùng Mysis có nhu cầu dưỡng khí cao và có tập
tính bơi lội dạng treo nên dễ bị lắng đáy. Do đó phải theo
dõi kỹ càng để kịp thời có những điều chỉnh giúp ấu trùng
bơi lội đều trong nước (như dùng vòi sục khí hoặc khuấy đảo
nước để nâng ấu trùng lên). Phân của ấu trùng Mysis dạng rời
rạc, lơ lửng trong nước nên phải thay nước để giữ ổn
định môi trường.
Thời gian biến thái của ấu trùng Mysis tùy thuộc
vào nhiệt độ nước thông thường 4-6 ngày ở nhiệt độ 27 - 290C
thì chuyển qua giai đoạn Postlarvae.
2.5.4 Chăm sóc hậu ấu trùng (Postlarvae)
Kỹ thuật chăm sóc Postlarvae tương tự như chăm sóc
Mysis. Postlarvae thường bám vào thành, đáy bể và có khả năng
bơi lội chủ động ngược dòng sục khí để bắt mồi, chúng có
thể ăn thịt lẫn nhau khi đói. Vì vậy trong giai đoạn này phải
cho tôm ăn thật đầy đủ, thức ăn chủ yếu là Artemia và thức
ăn tổng hợp. Cũng có thể dùng thêm thức ăn chế biến như: thịt
hàu, tôm bóc vỏ, trứng xay nhuyễn, hấp chín, chà qua lưới, lọc
lấy phần hợp cỡ để cho ăn. Sau mỗi lần cho ăn phải kiểm tra
xiphong đáy thức ăn chế biến dư thừa trong bể.
* Lưu ý: Trong giai đoạn này tôm sử dụng nhiều thức
ăn nên lượng nước cần thay hằng ngày cũng phải nhiều hơn. Khi
Postlarvae đạt 13-15 ngày tuổi thì có thể thu hoạch, chuyển qua ao
ương thành tôm giống hoặc thả trực tiếp để nuôi thành tôm thịt.
2.6. Quản lý chất lượng nước:
Trong quá trình sống và phát
triển ấu
trùng sẽ thải phân và vỏ (do lột xác) làm dơ bẩn nước nuôi.
Vì vậy muốn giữ ổn định môi trường nuôi, hàng ngày phải tiến
hành vệ sinh, thay nước.
*
Cách vệ sinh thay nước:
- Xiphong đáy: Giảm nhẹ sục khí, dùng ống xiphong
hút ra toàn bộ đáy bể, loại bỏ hết cặn bả, thức ăn dư thừa,
vỏ và xác ấu trùng chết ra ngoài qua vợt hoặc ống hermet thu ấu
trùng còn sống thả lại bể nuôi.
- Thay nước: Dùng dụng cụ thay nước hút nước ra
ngoài đến mức cần thay, sau đó cấp nước mới có cùng điều
kiện thủy lý, hóa vào (để tránh xảy ra sự thay đổi đột ngột
về môi trường).
Bảng 2: Kích thước mắt lưới sử dụng cho dụng cụ
thay nước và lượng nước cần thêm, hoặc thay trong các giai đoạn
ấu trùng.
Giai đoạn |
Kích thước mắt lưới (μ) |
Lượng nước cần thêm |
Lượng nước cần thêm (%) |
Lượng nước thay (%) |
|
Zoae 1
|
|
|
|
|
Zoae 2
|
|
20 |
|
Zoae 3 |
|
20 |
|
|
Mysis 1 đến PL5
|
500 |
|
20 - 30 |
PL1
đến PL15 |
700 |
|
40 - 60 |
2.7 Phòng bệnh
Trong quá trình nuôi ấu trùng, do mật độ ấu trùng
cao, môi trường là nước nên bệnh tật rất dễ lây lan. Do đó
những biện pháp kỹ thuật đúng đắn xuyên suốt toàn bộ quy
trình từ khâu xử lý nước, chuẩn bị bể, chuẩn bị thức ăn,
quá trình vận hành chăm sóc đu7ọc xem là phương pháp phòng ngừa
bệnh hữu hiệu nhất. Bởi vì nếu kiểm soát được các yếu tố
môi trường và thức ăn phù hợp sẽ giúp ấu trùng phát triển
nhanh, khỏe mạnh có khả năng kháng bệnh. Ngoài ra trong quá trình
sản xuất, có thể sử dụng một số loại thuốc, hóa chất để
hạn chế phát triển một số loại nấm, vi khuẩn gây bệnh như:
- Treflan, Malachite green có tác dụng phòng nấm.
- Oxytertracylin có tác dụng phòng trị vi khuẩn.
2.8 Thu hoạch và vận chuyển Postlarvae
2.8.1. Thu hoạch:
Rút cạn nước trong bể nuôi, dùng vợt vớt
Postlarvae ra thùng, chậu. Tiến hành định lượng Postlarvae bằng
cách đong mẫu hoặc đếm so màu mẫu để tính số lượng
Postlarvae bằng cách đong mẫu hoặc đếm so màu mẫu để tính số
lượng Postlarvae xuất cho người ương, nuôi đồng thời tính được
kết quả sản xuất và tỷ lệ sống cho từng đợt sản xuất giống,
hạch toán lỗ, lãi.
2.8.2. Vận chuyển Postlaevae:
Đóng tôm vào túi nilon có nước và oxy. Mật
độ tôm, trong bao tùy thuộc vào quãng đường và thời gian vận
chuyển. Mật độ vận chuyển thông thường. 300 - 500 PL/lít (với thời gian vận chuyển
trên 10 giờ) 500 - 800 PL/lít (với thời gian vận chuyển dưới
10 giờ) Giữ nhiệt độ trong bao khoảng 22 - 24 0C có tác dụng làm tôm ít hoạt động
giảm lượng tiêu hao oxy, không ăn thịt lẫn nhau do vậy, giảm
được sự hao hụt trong quá trình vận chuyển.
|