 |
Cá đĩa thường
(Cá đĩa đỏ, Cá
ngũ sắc thần
tiên)
Tên
Latinh:
Symphysodon
discus
Discus,
Pompadour,
Poisson-disque
(Red discus,
royal blue
discus)
Họ:
Cá rô
phi -
Cichlidae
Phân
bố:
Amazon
(Nam Mỹ)
Chiều
dài cá
trưởng
thành:
15-20 cm
Là
loài cá
lớn nhất
trong
các loài
cá đĩa.
Thân cá
dạng đĩa
rất cao,
rất dẹp
bên;
miệng
nhỏ, che
xiên
theo
chiều
cao.
Màu
nền là
màu nâu
vàng hay
màu hạt
dẻ, màu
mận. Có
nhiều
vân ngũ
sắc màu
lam nhạt
nhìn
thấy rõ
ràng bên
hông
cá.
Có 7
sọc dọc
sẫm màu,
sọc thứ
5 nằm ở
giữa
thân là
sọc rộng
nhất và
sẫm màu
hơn các
sọc
khác.
Hông
cá có
những
đường
lượn
sóng màu
lam nhạt
và óng
ánh, kéo
dài lên
1 phần
các cây
lưng và
hậu môn.
Các phần
khác màu
xanh da
trời.
Đầu
có những
hình
trang
điểm màu
xanh lam
nạht lấp
lánh hay
trong
mờ.
Cá
đĩa đỏ:
cơ thể
và gốc
các vây
lưng,
hậu môn
có màu
đỏ nâu.
Bể
nuôi:
Bể
nên thật
rộng và
sâu, mực
nước
45-60cm.
pH:
6-6,8.
Nhiệt
độ:
22-30 độ
C.
Nuôi
từng
nhóm 5-6
con trở
lên.
Thức ăn:
Cung
quăng,
trùn
chỉ,
ròng
ròng,
thịt bò
băm nhỏ,
thức ăn
khô tổng
hợp, nên
thay đổi
thường
xuyên để
đảm bảo
đủ các
chất
dinh
dưỡng...
Cho ăn:
Cá háu
ăn,
nhưng
chỉ nên
cho ăn
ngày 2
lần với
lượng
vừa đủ.
Cho ăn
sạch.
Sau khi
cá ăn
xong
(trong
khoảng
5-10
phút),
lấy hết
thức ăn
thừa ra.
Cá có
thể nhịn
đói
24-48
giờ.
Sinh
sản:
Cá
đĩa khó
sinh sản
nhân
tạo, bể
sinh sản
nhân tạo
nên có
pH hơi
axit
(pH=5,5-6).
Cá
đực:
hình
dáng to,
đầu hơi
gù, vây
bụng xệ,
dưới
bụng
vùng
giáp vây
lõm vào
trông
rất rõ,
hoạt
động
hung
hăng hơn
cá cái.
Cá
cái:
thường
nhỏ hơn
cá đực,
gai sinh
dục lồi
ra ngắn
(#3mm) ,
chia 2
thùy
nhọn và
hơi cong
về phía
sau.
Giai
đoạn bắt
cặp xảy
ra trong
vòng
7-10
nàgy.
cặp cá
sẽ tự
tách ra
một góc
bể, dùng
miệng
làm sạch
nơi sẽ
sinh đẻ.
Đôi cá
này
thường
kề sát
miệng,
quẫy
mạnh
đuôi,
đuổi bắt
nhau,
xua đuổi
những
con khác
lại gần
chúng.
Tiếp đó
chúng
bơi sóng
đôi,
quấn
quít bên
nhau.
Trước
khi đẻ
một vài
ngày, cá
có hiện
tượng
rùng
mình,
rung
toàn
thân,
xếp vây
lại, đôi
lúc đứng
yên tại
chỗ, ít
bắt mồi.
Khi
sinh, cá
chúc đầu
xuống 45
độ. Lúc
này gai
sinh dục
lộ rõ,
màu sắc
rực rỡ
hẳn lên.
Cá cái
đẻ trứng
theo
chiều
dọc giá
thể, từ
dưới
lên. Cá
đực cũng
theo lộ
trình đó
tiết
tinh để
thụ tinh
cho
trứng.
Số trứng
thường
70-80
đến 150,
có khi
hơn.
Trứng
đựơc thụ
tinh có
màu
trong
suốt.
trứng
khôgn
thụ tinh
thì vẩn
đục. Sau
24 giờ,
trứng
thụ tinh
chuyển
sang màu
trắng
xám. Ở
30 độ C
trứng nở
trong
vòng
55-57
giờ.
Trong
lúc này
cá bố và
cá mẹ
thay
phiên
nhau
quạt
nước cho
trứng để
có đủ độ
thoáng
khí. Tỉ
lệ trứng
nở:
60-90%.
Nên
cho cá
đẻ nơi
yên tĩnh
(quây,
che bể
cá lại).
Ương cá
bột:
Sau khi
trứng nở
thành cá
bột, cá
bố mẹ
dìu cá
con đến
một địa
điểm
khác.
Nhờ sợi
nhờn ở
đầu, cá
con bám
vào
thành bể
hoặc một
giá thể.
Cá con
chưa bơi
lội được
và sống
nhờ chất
dự trữ ở
túi noãn
hoàng
dưới
bụng.
Con nào
bị rớt
sẽ được
cá bố mẹ
mang về
chỗ cũ.
Sau
60 giờ,
cá con
có thể
bơi lội
thành
đàn
quanh cá
bố mẹ.
Cá con
sống nhờ
ăn chất
nhờn
tiết ra
từ mình
cá bố mẹ
trong
vòng
12-15
ngày.
Sau đó,
cá con
bắt đầu
ăn được
các sinh
vật nhỏ
trong
nước.
Khoảng
18 ngày,
cá con
ăn được
thức ăn
nhân
tạo. Sau
21 ngày
chúng có
thể tự
đi tìm
thức
ăn.
Cá
mới nở
dài
khoảng
1,2-2mm;
sau 1
tuần cá
dài 3mm.
Khoảng 2
tuần
tuổi, cá
dài 1cm,
thân có
sọc
thẳng,
mắy màu
nâu xám.
Khi được
18 ngày,
cá dài
1,5cm,
vây lưng
và vây
bụng màu
đen, lên
màu.
Khoảng
5-6
tuần, cá
dài
khoảng
2-2,5cm,
có hình
dạng như
cá
trưởng
thành,
nhưng
chưa rõ
màu sắc.
Sau 3
tháng,
cá dài
6-7cm và
màu sắc
thể hiện
rõ,
nhưng
phải đến
tháng
thứ 5-6,
cá mới
có màu
sắc sặc
sỡ của
cá
trưởng
thành.
Trong
thời
gian
đầu, từ
ngày thứ
7, nên
cho cá
ăn bo bo
(Moina)
non
(nhỏ),
bọ một
mắt (Cyclops)
non,
ngày vài
lần,
tránh
cho ăn
quá no.
Thức ăn
nên phân
bố đều
trong
toàn bể,
tránh cá
lớn
tranh
ăn. Tiếp
đó cho
đến 2
tháng
rưỡi,
nên cho
cá ăn
rận nước
(Daphnia).
Cá 3-4
tháng
cho ăn
thêm
cung
quăng,
trùn
chỉ. Sau
đó cho
ăn thêm
ròng
ròng,
bảy màu
nhỏ.
Trong
vài tuần
đầu, nên
giữ
nhiệt độ
nước
29-30 độ
C. Có
ánh sáng
khoảng
18 giờ.
Nhưng
không
nên dùng
ánh sáng
quá chói
chang.
|
|
 |
Cá đĩa xanh lam
Symphysodon
aequifasciata
haraldi
#
Blue
discus,
discus
bleu
Họ:
Cá rô
phi -
Cichlidae
Phân
bố:
Amazon
(Nam Mỹ)
Chiều
dài cá
trưởng
thành:
tới 12
cm hay
hơn
|
|
 |
Cá đĩa nâu
Symphysodon
aequifasciata
axelrodi
#
Brown
discus,
discus
brun
Họ:
Cá rô
phi -
Cichlidae
Phân
bố:
Amazon
(Nam Mỹ)
Chiều
dài cá
trưởng
thành:
14 cm
|
|
| |
Cá đĩa xanh lục
Symphysodon
aequifasciata
aequifasciata
#
Green
discus,
Discus
vert
Họ:
Cá rô
phi -
Cichlidae
Loại cá
đĩa có
màu này
là loại
quý
hiếm.
|
|
Cá cảnh - Võ Văn
Chi - NXB KHKT 1993
Các bệnh
thường thấy ở
cá đĩa:
Cá bị bệnh
thường có màu
sẫm đen, bơi
lội lờ đờ, hay
ở sát đáy bể
hay loi ngoi
lên mặt nước,
cờ trên và cờ
dưới xếp lại,
đuôi bị ăn
mòn. Cá bị
bệnh rất biếng
ăn. Các bệnh
thường thấy
là:
-
Nấm thủy mi (mốc
nước): gây nên
những chấm nhỏ màu
trắng trên thân cá.
Có thể dùng sulfat
đồng sát trùng cho
cá với nồng độ vừa
phải.
-
Lở loét mũi: do một
loại ký sinh xâm
nhập vào mũi, từ đó
ăn hết phần thịt
của mũi, tạo thành
một lõm lớn lan
rộng đến mắt và sâu
tới não. Cá bị bệnh
thường cọ mũi vào
vật dụng để trong
thành bể, vào thành
bể, thường nghiêng
đầu xuống khi bơi,
biếng ăn hay bỏ ăn,
phân trắng, loãng.
Có thể dùng
Tetracyclin để trị
bệnh cho cá, nhưng
cũng chỉ trị được
dứt bệnh khi cá mới
bị nhiễm giai đoạn
đầu. Cá bị bệnh có
thể lây bệnh sang
những con cá khoẻ
mạnh khác và có thể
gây chết hàng loạt.
Do đó phải chú ý
giữ gìn vệ sinh bể
nuôi, cách ly cá bị
bệnh.
Cá cảnh - Võ Văn
Chi - NXB KHKT 1993
Cách nuôi cá cảnh:
cá Đĩa
Theo: Nông
thôn đổi mới -
Vista,
2005/Số 2/II. Cách
làm ăn mới -
68.39 Ngành chăn
nuôi
Theo đặc tính
của loài thần
tiên 7 màu này,
nên nuôi trong
bể số cá cùng cỡ
cùng tuổi. Số
lượng tương đối
nhiều tốt hơn là
nuôi thưa cá.
Nuôi dày tuy
chóng làm bẩn nước,
tất nhiên phải có
cách xử lý là thay
nước nhiều hơn và
phải chú ý đến hệ
thống lọc nước.
Lần đầu nuôi cá,
chưa nên quá chú ý
đến lựa chọn chủng
loại chỉ nên sao
lựa được cá không
bệnh tật, ham ăn
dáng vẻ linh hoạt,
khỏe mạnh, thân
không bị đen, không
nhát, tùy khả năng
kinh tế mua nhiều
một chút những con
cá bằng nhau.
Khi mới đưa về
nuôi nên nâng nhiệt
độ cao hơn một
chút. Cụ thể là 33
0C trên dưới không
quá nhiều. Thay
nước nhiều lần và
cho ăn cũng nhiều
lần cho cá quen
dần.
Cần phân biệt cá
lớn, nhỏ nuôi
riêng.
Với cá từ 3 –
5 cm:
Cỡ này khá
nhiều, giá rẻ và dễ
nuôi nhất. Nói
chung cá càng nhỏ
càng mau quen,
chúng không sợ
người như cá lớn.
Bể cá mua ở thị
trường cỡ 45 – 60
cm là được. Mới đầu
không cần thiết
phải mua một bể
lớn. Hơn nữa bể lớn
thả không nhiều cá,
không gian vắng vẻ
làm cá không yên.
Trong khi sử
dụng 1 bể lớn cũng
nhiều điều bất
tiện. Bể nhỏ là tốt
hơn.
Với bể 45 cm nên
nuôi khoảng 10 con
cỡ 4 – 5 cm.
Với bể 65 cm nên
nuôi khoảng 10 – 15
con nếu hàng ngày
thay nước đều và
cho ăn thức ăn sống
có thể nuoi đến 30
con cũng không có
vấn đề gì.
Bể nuôi không
cần phải trải cát ở
đáy, chỉ cần có bộ
tăng nhiệt (hay cấp
nhiệt) có kèm bộ
phận tự động điều
chỉnh nhiệt độ và 2
bộ máy lọc nước
(cần 1 bộ làm việc
và 1 bộ thay thế
khi bảo dưỡng để
đảm bảo không ngừng
công việc). Bảo
dưỡng phải theo chỉ
dẫn và không dùng
nước máy khi súc
rửa, cần dùng ngay
nước nuôi cá đúng
chất lượng trong
việc này.
Cá từ 7 – 11
cm:
Dùng bể nuôi 75
x 45 x 45 cm hoặc
90 x 45 x 45 cm.
Cũng dùng 2 bộ lọc
nước như trên. Nên
dùng bể 75 cm có
thể nuôi 5 con kích
thước từ 6 – 11 cm,
hoặc 20 con kích
thước 7 – 8 cm.
Do không có đáy
cát, có khi cá bị
dị ứng với ánh sáng
phản chiếu trên
kính, có thể phủ
một lớp nilông hay
tấm PVC màu xám.
Tuy nhiệt độ tốt
nhất cho cá đẻ
trứng là 31 oC
nhưng trên dưới 30
C là bảo đảm cho cá
phát dục.
Việc thay nước
số lần và lượng
nước thay cần căn
cứ vào: bể lớn nhỏ,
cá lớn nhỏ và số
lượng nhiều ít. Hệ
thống lọc nước và
hiệu suất thực tế.
Với bể 75 cm
(nếu chỉ dùng hệ
thống lọc đặt bên
trên) mỗi ngày thay
nước 1 lần từ 50 –
70%. Nếu dùng hệ
thống lọc nói trên
kết hợp hệ thống
lọc đặt trong bể
cùng làm việc, 3
ngày thay 1 lần và
thay 50%. Đây là
tình hình thực tế
đã được tác giả thử
nghiệm có kết quả
tốt.
Các bộ lọc trên
đây đều dùng len
hoặc sợi tổng hợp
làm vật liệu lọc.
Thức ăn và cách cho
ăn đã được chú ý để
không làm hỏng
nước.
Cá từ 11 cm
trở lên:
Khi cá đã lớn
được như vậy, người
nuôi cá có phần đã
yên tâm không còn
vất vả và tốn công
sức nhiều.
Nên dùng bể 90
cm có thể nuôi từ 5
đến 15 con, ngày
cho ăn 1 lần là
được. 2 ngày 1 lần
thay nước khoảng 70
– 80%. Cũng sử dụng
2 máy lọc nước nói
trên với 1 máy lọc
thả trong bể (còn
gạo là máy lọc động
lực có mô tơ). Thay
nước giảm còn 1
tuần 1 lần 70%. Đến
đây đã có thể có
con bắt đầu phát
dục khi cho ăn cần
chú ý xem chúng có
ăn đủ không?
(Nguồn: Kỹ thuật
Nuôi cá cảnh, NXB
Trẻ, năm 2003, tr.
161 – 164)
|