|

Họ: Cá rô
phi -
Cichlidae
Phân bố:
Nam Mỹ, trong
các ao hồ ở
Columbia và
Panama.
Chiều dài:
Tới 35cm. Cá
trong bể nuôi
thường có
chiều dài
20cm.
Chiều dài
bể: 120cm.
Chế độ ăn:
Giun, động vật
thân giáp, côn
trùng, thịt
băm nhỏ, thức
ăn tổng hợp.
Nhiệt độ
nước: Từ 22
đến 28 độ C.
Bể nuôi
riêng.
Cá heo lửa
hay cá tai
tượng Phi
(Oscar, Velvet
Cichlid,
Peacok-Eye
Cichlid -
Oscar,
Cichlide à
oeil de paon)
có thân dẹp
ngang đều đều.
Các vây bụng
nhọn, ngược
lại với các
vây lưng,
đuôi, hậu môn
và ngực lại
tròn.
Màu sắc
chung thay đổi
đáng kể và phụ
thuộc nhiều
vào tuổi của
cá. Ở những
mẫu trưởng
thành về giới
tính, hông cá
có thể màu nâu
sẫm, đen lam
hay ôliu, tô
điểm những
vạch và chấm
màu vàng nhạt
hoàn toàn
không đều. Do
cá có màu như
màu ánh lửa mà
cá này được
đặt tên là cá
heo lửa. Ở
cuống đuôi
thường có một
điểm tròn màu
đen, bao bởi
một hình vành
khăn tròn màu
đỏ chói - một
trong những
đặc tính không
đổi hiếm thấy
ở cá heo lửa,
nom như con
mắt, do đó có
tên khoa học
như trên. Vây
cá, sẫm màu ở
mép, thường
nhạt màu hơn ở
gốc. Cá có mắt
tương đối nhỏ.
Cá chưa đến
tuổi thành
thục rất khó
phân biệt giới
tính.
Bể nuôi lý
tưởng nhất
phải có một
nền cát và
cuội sỏi, ít
đá, các rễ cây
và một số cây
mọc nổi khác
nhau. Không
nên trồng cây
gì có rễ vì cá
heo lửa hay
sục đất để tìm
thức ăn sẽ làm
cây chóng
chết. Cũng có
thể trồng cây
trong chậu rồi
đặt tất cả vào
nền. Cá này có
tính chậm
chạp, nhưng
vẫn thường di
chuyển. Cá
sống hòa bình
nhưng do tập
tính hay đào
bới nên không
nuôi chung với
các cá khác.
Cá thành
thục sinh dục
sau 2-3 năm.
Vào giai đoạn
này, có thể
phân bịt cá
đực với cá
cái. Cá đực có
bụng thon nhỏ
và lỗ sinh dục
nhọn, còn cá
cáicó bụng
phình to và lỗ
sinh dục có
màu hồng. Cá
đực có màu
thân đệm, vây
lưng và vây
bụng dài,
khoảng cách từ
mõm tới vây
lưng dài hơn.
Còn cá cái có
màu nhạt hơn,
vây lưng và
vây bụng ngắn,
phần từ mõm
tới vây lưng
thon nhỏ và
ngắn hơn.
Mùa vụ sinh
sản của cá là
mùa mưa,
thường là vào
tháng 7-8. Cá
đực và cá cái
tự bắt cặp với
nhau. Cá đực
hung hăng ve
vãn cá cái,
rượt đuổi cắn
nhau. Chúng
hợp tác với
nhau chùi đá
cẩn thận làm
chổ đẻ, thường
là chỗ đá bằng
phẳng. Cá đẻ
trứng thành
hàng dính vào
đá trên một
diện tích
10-12cm vuông
trong khoảng
thời gian
25-30 phút.
Chúng thường
đẻ vào buổi xế
chiều (13-15
giờ). Số trứng
đẻ ra trong
lứa đầu khoảng
300 trứng; ở
cá lứa sau, số
trứng đẻ ra sẽ
tăng thêm
nhiều hơn. Cá
bố mẹ canh gác
giữ gìn cho
tổ. Chúng
thường dùng
vây ngực để
quạt nước,
thỉnh thoảng
hút nước phun
nhẹ lên đám
trứng. Vào
giai đoạn này,
tránh gây
tiếng động
hoặc làm cho
cá hoảng sợ,
chúng sẽ nuốt
trứng. Sau
khoảng 2-4
ngày, tùy theo
nhiệt độ môi
trường cao hay
thấp, trứng sẽ
nở. Cá bố mẹ
dẫn cá bột tới
một chỗ lõm
nhỏ đào trong
cát và đặt
chúng tại đó
trong 6 hay 7
ngày. Khi cá
bơi lội được
tự do, có thể
cho ăn trùng
bánh xe và các
ấu trùng
Artemia.
Người ta
cũng có thể
tiến hành ấp
trứng nhân tạo
để tránh tình
trạng cá ăn
trứng và ăn cá
con. Sau khi
đẻ, người ta
tách cá bố mẹ
ra. Không làm
thay đổi nhiệt
độ nước. Sục
khí liên tục
vào bể ấp và
điều chỉnh với
một luồng khí
rất nhẹ để
tránh làm xáo
trộn trứng.
Sau khi cá
bột nở, người
ta vớt chúng
ra cho vào
thau hay bể
rộng. Ba đến
bốn ngày sau,
cho chúng ăn
trùng bánh
xe, ấu trùng
Artemia. Sau
hai tuần, đã
có thể cho cá
ăn trùng chỉ,
cá khổng tước
(cá bảy màu )
con, cá ròng
ròng, bột cá
hay bột thịt.
Cá con dài
khoảng 3cm thì
tách ra bể có
kích thước lớn
để nuôi.
|
|