|
Đưa thông
tin đến nông
dân: Đường
còn xa
Hạnh
Linh - Đại
Nguyên
Tạp chí
PCWorld B,
tháng 6/2006
Những năm
gần đây,
nhiều chương
trình ứng
dụng CNTT
đưa thông
tin và tiến
bộ khoa học
kỹ thuật đến
nông dân đã
được triển
khai. Tuy
nhiên, do
thực hiện
rời rạc,
thiếu phối
hợp đồng bộ
nên các
chương trình
này còn
nhiều hạn
chế, chưa
mang lại
hiệu quả
thiết thực
như mong
muốn.
Chương
trình nhiều
- hiệu quả
thấp
Theo kết quả
điều tra về
phát triển
Internet tại
các quốc gia
trên thế
giới do Quỹ
Nghiên Cứu
Internet
GOV3 của Anh
công bố ngày
17/11/2005
tại Hội Nghị
Thượng Đỉnh
Xã Hội Thông
Tin Toàn
Cầu, Việt
Nam đứng thứ
3 trong nhóm
các quốc gia
tiên phong
về tốc độ
phát triển
mạng lưới
Internet với
số lượng
người sử
dụng
Internet
tăng hơn 27%
trong 4 năm
qua. Gần 10%
dân số sử
dụng
Internet.
Tuy nhiên,
chỉ số tiếp
cận số (DAI)
không cao do
trình độ sử
dụng thấp,
ít các ứng
dụng thiết
thực.
Nhà Nước và
nhiều địa
phương, tổ
chức đã
triển khai
các chương
trình ứng
dụng CNTT -
truyền thông
(CNTT - TT)
vào khu vực
nông thôn.
Chẳng hạn
chương trình
"Phổ cập tin
học" do sinh
viên CNTT ĐH
Cần Thơ phối
hợp với Đoàn
Thanh Niên
Cộng Sản HCM
các địa
phương thực
hiện tại một
số tỉnh/
thành khu
vực ĐBSCL.
Tuy nhiên,
kết quả của
chương trình
này cũng
khiêm tốn
như mục tiêu
đề ra: Giới
thiệu cho
thanh niên
nông thôn về
máy vi tính
và Internet.
Một chương
trình khác:
"Nông dân
(ND) điện
tử" tại An
Giang, đặt
mục tiêu ứng
dụng CNTT hỗ
trợ cung cấp
thông tin,
hướng dẫn kỹ
thuật canh
tác, các mô
hình sản
xuất nông
nghiệp có
hiệu quả cho
ND. Nhưng
kết quả lại
chỉ dừng ở
mức thí điểm
và phong
trào! Đề án
"Khuyến nông
điện tử"
(e-Mekong)
của ĐH Cần
Thơ thực
hiện các
khóa đào tạo
khuyến nông
qua mạng, ND
có thể tham
gia học trực
tuyến và
trao đổi
trực tiếp
với chuyên
gia những
vấn đề mà họ
cần tư vấn.
Nhưng đề án
này vẫn đang
tìm nguồn
kinh phí để
triển khai!
Ngoài ra,
còn có
chương trình
"Dự án quốc
gia phát
triển cộng
đồng"- đưa
Internet về
nông thôn do
tổng công ty
Bưu Chính
Viễn Thông
VN (VNPT)
triển khai
trong cả
nước. Theo
đó, VNPT sẽ
triển khai
khoảng 9.000
điểm bưu
điện văn hóa
xã (ĐBĐVHX)
và trên
10.000 điểm
tại các vùng
nông thôn
miền núi có
Internet.
Còn nhiều
chương trình
khác như:
Xây dựng và
phát triển
hệ thống
thông tin
nông thôn do
Bộ NN-PTNT
chủ trì; các
dự án lớn
nhỏ do các
tổ chức phi
chính phủ,
viện nghiên
cứu trong
ngành nông,
lâm nghiệp
triển
khai...
Đánh giá
hiệu quả của
các chương
trình, ông
Nguyễn Hồng
Vân, chủ
tịch Hội Tin
học Cần Thơ,
cho rằng:
"Hầu hết các
chương trình
đều có tác
động tích
cực. Về lý
thuyết,
chúng có thể
bổ khuyết
cho nhau,
tuy nhiên,
do triển
khai rời
rạc, thiếu
phối hợp
đồng bộ nên
còn nhiều
hạn chế,
chưa mang
lại hiệu quả
thiết thực
như mong
muốn". Theo
ông Vân, kết
quả này là
do những
nguyên nhân
như ND chưa
chuyển đổi
được thói
quen thông
tin liên lạc
từ thư, điện
tín, bưu
phẩm và điện
thoại sang
dùng
Internet;
nguồn thông
tin khuyến
nông trên
mạng chưa
được chọn
lọc, biên
tập phù hợp
với trình độ
ND và nhu
cầu sản xuất
nông nghiệp,
tiểu thủ
công
nghiệp...
|
|
THƯƠNG
HIỆU
VÀNG
CỦA
NÔNG
DÂN |
|
|
|
Mạng
www.vietlinh.com.vn
vừa
được
chọn
trao
giải
"Thương
hiệu
vàng
chất
lượng"
do báo
Nông
Nghiệp
Việt
Nam tổ
chức
hồi
cuối
tháng
4/2006.
Bà
Trần
Mai
Phương,
quản
trị
web
Việt
Linh,
cho
biết:
"Ban
đầu
web
chỉ
nhằm
thư
viện
hóa
một
vài
lĩnh
vực
như
nuôi
tôm,
nuôi
cá.
Nhưng
do
thông
tin
lúc đó
còn
hạn
chế,
ND
mong
muốn
được
trao
đổi,
mạn
đàm,
giải
đáp
thêm
nhiều
vấn đề
nên
ban
quản
trị
(BQT)
web đã
nâng
cấp
thành
diễn
đàn
trao
đổi
giữa
các
nhà
khoa
học,
chuyên
gia
nông
nghiệp
và ND.
Qua 6
năm
hoạt
động,
Việt
Linh
có đội
ngũ
cộng
tác
viên
đông
đảo là
các
nhà
khoa
học,
ND
giỏi.
Hiện
nay,
mỗi
ngày
có
khoảng
50 câu
hỏi
được
gửi
đến
BQT.
Tùy
lĩnh
vực,
BQT sẽ
tự trả
lời
hoặc
chuyển
đến
người
có khả
năng
giải
đáp.
Thế
mạnh
của
Việt
Linh
là
thông
tin
cập
nhật.
Khi có
quy
định
mới về
việc
cấm sử
dụng
một số
loại
kháng
sinh
trong
nuôi
trồng
thủy
sản,
Việt
Linh
tìm
lại
tất cả
các
bài
viết
có đề
cập
đến
loại
kháng
sinh
đó để
chú
thích.
|
|
|
|
|
|
Theo
chị
Phương,
Việt
Linh
tổ
chức
chuyên
mục
chưa
được
bài
bản
nhưng
gần
gũi
với
ND, tư
vấn
thẳng
vào
vấn đề
họ
cần,
không
trả
lời
thuộc
lòng
từ đầu
đến
cuối
một
vấn
đề. ND
vướng
mắc ở
đâu,
trả
lời
đến
đó.
Tài
liệu
hướng
dẫn
quy
trình
quản
lý
chất
lượng
trong
nuôi
trồng,
yêu
cầu
giám
sát
theo
thông
số về
tỷ lệ
cá
chết,
hàm
lượng
thức
ăn,
các
chỉ
tiêu
lý,
hóa...
được
Việt
Linh
lập
thành
đồ
thị.
Trang
web
cũng
mở
thêm
mục
chuyên
đề để
ND bàn
bạc,
trao
đổi.
Đây là
một
cách
làm
cho
các
kiến
thức
khoa
học
trở
nên
gần
gũi
hơn.
Chẳng
hạn,
khi
vào
thư
mục
Lúa,
bà con
có thể
tìm
theo
giống
lúa,
khi
vào
từng
giống
lúa
lại có
thể
tra
cứu
từng
loại
bệnh...
Được
biết,
Việt
Linh
đang
có kế
hoạch
hợp
tác
với
GS.Võ
Tòng
Xuân
để tổ
chức
các
chuyên
mục
chi
tiết
hơn,
giúp
bà con
ND dễ
tìm
kiếm
thông
tin
hơn.
|
|
Chưa gần gũi
với nông dân
Hiện nay,
phần lớn ND
tiếp cận
kiến thức,
thông tin về
nuôi trồng
qua sách,
báo, đài.
Tuy nhiên
với những
kênh thông
tin này,
thời gian
hồi âm thắc
mắc của ND
rất lâu. Ông
Vũ Văn Luân,
ND xã Minh
Lãng, huyện
Vũ Thư (Thái
Bình) cho
biết: "ND
biết rất ít
về chuyển
dịch cơ cấu
cây trồng,
vật nuôi.
Tài liệu,
sách báo có
hướng dẫn
nhưng ND
chúng tôi
học vấn
thấp, kiến
thức không
đồng đều nên
tiếp thu
chậm lắm.
Mỗi năm lại
xuất hiện
nhiều loại
sâu, dịch
bệnh khác
nhau..., ND
chẳng biết
hỏi ai.
Chẳng lẽ lúc
nào cũng đến
hỏi Sở (Nông
Nghiệp Phát
Triển Nông
Thôn)".
Chuyển thông
tin qua
Internet là
cách làm
nhanh, thuận
tiện cho
việc trao
đổi hai
chiều, giải
đáp thắc mắc
cho ND. Tuy
nhiên, dù
Internet đã
đến gần với
ND qua hơn
2.000 điểm
Bưu Điện Văn
Hóa Xã
(BĐVHX)
nhưng vẫn
chưa song
hành cùng
chất lượng
và hiệu quả.
Ông Phạm Văn
Được, giám
đốc Sở BCVT
Yên Bái cho
biết, phần
lớn nhân
viên ở các
điểm BĐVHX
là con em
cán bộ xã,
thiếu kỹ
năng tin học
cơ bản để
hướng dẫn
ND; họ chỉ
trông coi
được việc
gọi điện,
thu tiền và
phát tem,
báo...
Qua tiếp
xúc, nhiều
ND cho biết
sẵn sàng bỏ
tiền tìm
kiếm thông
tin khuyến
nông (doanh
thu từ dịch
vụ Internet
hiện chiếm
14,1% tổng
doanh thu từ
các dịch vụ
của các điểm
BĐVHX).
Nhưng ND cần
thông tin
thiết thực;
được cập
nhật, hướng
dẫn chi
tiết; có thể
ứng dụng
được ngay và
nếu vướng
mắc phải có
nơi giải
đáp. Trong
khi cách tổ
chức các
trang web
hiện nay
mang nặng
tính chủ
quan của cơ
quan chủ
quản, chưa
thực sự hiểu
người ND cần
gì. Một số
trang số hóa
nội dung của
sách, báo
hướng dẫn
nuôi trồng
mà không cập
nhật thông
tin.
Bà Trần Mai
Phương, quản
trị trang
www.vietlinh.com.vn
cho biết,
thông tin
hướng dẫn kỹ
thuật chỉ
mang tính
đại chúng và
tham khảo để
khi chưa
nuôi thì
biết cách
nuôi hoặc
nuôi rồi thì
tham khảo
thêm. Còn
nuôi trồng
thực tế lại
cần kinh
nghiệm. Vì
vậy, cần có
diễn đàn
trên mạng để
bà con trao
đổi.
"Sách hướng
dẫn khuyến
nông- ngư
nhiều nhưng
phần lớn
viết bằng
ngôn ngữ
khoa học,
không sát
với thực tế.
Chẳng hạn có
sách hướng
dẫn ND lập
biểu đồ khi
nuôi tôm...
vượt quá khả
năng ND. Hay
có những
khái niệm
mới nghe qua
tưởng ai
cũng biết
như cày lật
đất, cuốc...
nhưng cày
sâu bao
nhiêu, lật
lên bao
nhiêu, phơi
nắng bao
lâu... thì
không có
trong khi
người ND rất
cần được
hướng dẫn tỉ
mỉ”, bà
Phương nói.
Bà Hoàng
Diệu Tuyết,
phó chủ tịch
thường trực
Hội ND Việt
Nam, góp ý:
"Cần phân
tầng thông
tin cho
nhiều ngành
nghề, trình
độ. Chẳng
hạn những ND
khá giả muốn
biết về các
nguồn vốn
ngân hàng,
đối tác,
công nghệ
mới, mở rộng
sản xuất,
xuất khẩu.
Trong khi ND
nghèo lại
cần kinh
nghiệm nuôi,
trồng thực
tế, cụ thể,
tỷ mỷ, gần
gũi và đơn
giản".
Hiện nay,
thông tin
trên
Internet mới
chỉ dừng ở
mức số hóa
thông tin
khuyến nông
mà chưa tận
dụng hết ưu
thế của công
nghệ
Internet.
Các nhà khoa
học không
biết ND
vướng ở đâu,
còn ND vướng
mắc lại
chẳng biết
hỏi ai. GS.
Võ Tòng
Xuân, hiệu
trưởng ĐH An
Giang, chia
sẻ: "ND mình
không có
thời gian
học. Chỉ có
thể dạy họ
kiến thức,
kỹ năng cao
nhất gắn với
điều kiện
sinh sống
của họ. Muốn
vậy, nhà
khoa học và
đội ngũ
người thực
hiện - gồm
những quản
trị trang
web và cán
bộ điểm
BĐVHX - cần
"bắt tay"
chặt chẽ
trong việc
hướng dẫn
ND".
Đáng tiếc
tất cả mới
chỉ là gợi
ý!
|
|
Đề án
mạng
thông
tin
khoa
học
công
nghệ
khu
vực
đồng
bằng
sông
Cửu
Long
|
|
|
|
Tại
hội
thảo
hợp
tác và
phát
triển
CNTT
quốc
gia tổ
chức
tại
Kiên
Giang
tháng
8/2004,
vấn đề
ứng
dụng
CNTT-TT
vào
phục
vụ
phát
triển
sản
xuất
và đời
sống
nông
thôn
đã
được
quan
tâm
với
sáng
kiến:
Xây
dựng
cổng
thông
tin
điện
tử
(Mekong
Portal)
khoa
học
công
nghệ
(KHCN),
phục
vụ
phát
triển
sản
xuất
và đời
sống
nhân
dân
đồng
bằng
sông
Cửu
Long
(ĐBSCL).
Từ
sáng
kiến
này,
đề án
e-Mekong
đã
được
hình
thành,
đưa ra
các
mục
tiêu:
- Xây
dựng
cổng
thông
tin
điện
tử
cung
cấp
thông
tin
KHCN
phục
vụ
phát
triển
sản
xuất
và đời
sống
nhân
dân
khu
vực
ĐBSCL
- Phổ
cập
tin
học
cho
khu
vực
nông
thôn
để ND
biết
cách
khai
thác
thông
tin
trên
mạng
- Tổ
chức
các
lớp
huấn
luyện
trực
tuyến
hướng
dẫn ND
cách
sản
xuất
(trồng
trọt,
chăn
nuôi,
thủy
sản,
dạy
nghề
tiểu
thủ
công
nghiệp...)
và
cung
cấp
thông
tin
đời
sống
(y tế,
pháp
luật,
xây
dựng
nhà ở
và các
công
trình
nông
thôn,
giáo
dục,
văn
hoá...)
- Xây
dựng
các
điểm
Kiot
Internet
để
người
dân
nông
thôn
tự đầu
tư và
nhân
rộng
tại
các
địa
phương
có nhu
cầu.
Dự
kiến
Sở
KHCN
các
tỉnh,
thành
khu
vực
ĐBSCL;
các
ĐH,
các
viện
nghiên
cứu
nông
nghiệp
trong
vùng
sẽ
cùng
phối
hợp
thực
hiện
đề án.
Đề án
được
chia
làm 02
giai
đoạn,
tổng
kinh
phí
khoảng
178.000
USD.
Trong
đó,
giai
đoạn 1
nhằm
thiết
lập
mạng
thông
tin,
giai
đoạn 2
để
củng
cố hệ
thống
thông
tin
KHCN,
triển
khai
thí
điểm
mô
hình
mẫu
(khoảng
26
điểm,
mỗi
tỉnh/thành
chọn 2
điểm).
Đề án
hiện
đang
chờ
kinh
phí
từ: Bộ
KHCN,
UBND
các
tỉnh... |
|
Hạnh Linh
- Đại Nguyên
http://www.pcworld.com.vn/pcworld/magazine_b.asp?t=mzdetail&atcl_id=5f5e5d5e5b5a5b
|