![]() |
Thủy sản, nông nghiệp |
| Tin tức, Kỹ thuật, Tư vấn - Tìm kiếm - Liên hệ - English |
|---|
Trong cuộc hành trình qua các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Thái Bình, Hà Tây... hình ảnh người nông dân trên mảnh ruộng, ao tôm luôn là động lực tạo cho chúng tôi niềm say mê trong việc xây dựng Trang tin điện tử Việt Linh ngày càng gần gũi và thiết thực với bạn đọc. Dưới đây là những ghi nhận của Việt Linh, chia sẻ nỗi nhọc nhằn của bà con nông dân đang ngày đêm cặm cụi trên ruộng đồng, góp phần tạo ra vị thế xuất khẩu hàng đầu thế giới về thủy sản và lúa gạo cho Việt Nam.
|
||||||||||||||||||||||||||||
Nghệ An Diện tích: 16.487km2 Tỉnh lỵ: Thành phố Vinh Huyện thị: Thị xã Cửa Lò, Thị xã Thái Hòa và 17 huyện, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Đô Lương, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau). Hải phận rộng 4.230 hải lý vuông, từ độ sâu 40m trở vào nói chung đáy biển tương đối bằng phẳng, từ độ sâu 40m trở ra có nhiều đá ngầm, cồn cát. Vùng biển Nghệ An là nơi tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao. Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi tắm đẹp và hấp dẫn, là lợi thế cho việc phát triển du lịch ở Nghệ An. Bờ biển Nghệ An có chiều dài 82 km, có 6 cửa lạch thuận lợi cho việc vận tải biển, phát triển cảng biển và nghề làm muối (1000 ha) và nuôi trồng thủy sản. Năm 2006, ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản đã đóng góp 33,09% GDP cho Nghệ An, luôn là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Về Thuỷ sản
(Nguồn: nghean.gov.vn)
|
|
|||||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||||||
Thanh Hóa Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung, cách Hà Nội 150 km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560km. Vùng ven biển Thanh Hoá có diện tích 110.655 ha, chiếm 9,95% diện tích toàn tỉnh, với bờ biển dài 102 km, địa hình tương đối bằng phẳng. Chạy dọc theo bờ biển là các cửa sông. Vùng đất cát ven biển có độ cao trung bình 3-6 m, có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng... có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ kinh tế biển. Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt. - Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1600-2300mm, mỗi năm có khoảng 90-130 ngày mưa. Độ ẩm tương đối từ 85% đến 87%, số giờ nắng bình quân khoảng 1600-1800 giờ. Nhiệt độ trung bình 23 C - 24 C, nhiệt độ giảm dần khi lên vùng núi cao. - Hướng gió phổ biến mùa Đông là Tây bắc và Đông bắc, mùa hè là Đông và Đông nam. Đặc điểm khí hậu thời tiết với lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 1.112.033 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 245.367 ha; đất sản xuất lâm nghiệp 553.999 ha; đất nuôi trồng thuỷ sản 10.157 ha; đất chưa sử dụng 153.520 ha với các nhóm đất thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả. Thanh Hoá có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với những bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn, thuận lợi cho tàu thuyền đánh cá ra vào. Đây cũng là những trung tâm nghề cá của tỉnh. Ở vùng cửa lạch là những bãi bồi bùn cát rộng hàng ngàn ha, thuận lợi cho nuôi trồng hải sản, trồng cói, trồng cây chắn sóng và sản xuất muối. Diện tích nước mặn ở vùng biển đảo Mê, Biện Sơn có thể nuôi cá song, trai ngọc, tôm hùm và hàng chục ngàn ha nước mặn ven bờ thuận lợi cho nuôi nhuyễn thể vỏ cứng như ngao, sò … Vùng biển Thanh Hoá có trữ lượng khoảng 100.000 - 120.000 tấn hải sản, với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao. (Nguồn: thanhhoa.gov.vn) |
|
|||||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||||||
Thái Bình Thái Bình là một tỉnh ven biển, thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng. Tỉnh có 7 huyện (Đông Hưng, Hưng Hà, Kiến Xương, Quỳnh Phụ, Tiền Hải, Thái Thụy, Vũ Thư) và 01 thành phố (Thành phố Thái Bình) trong đó có 284 xã, phường, thị trấn. Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa; Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23-24 C (thấp nhất là 4 C, cao nhất là 38 C). Lượng mưa trung bình 1.400mm - 1.800mm. Số giờ nắng trong năm khoảng 1.600 - 1.800 giờ. Độ ẩm trung bình vào khoảng 85-90%. Thái Bình được bao bọc bởi hệ thống sông, biển khép kín. Bờ biển dài trên 50 km và 4 sông lớn chảy qua địa phận của tỉnh: Phía bắc và đông bắc có sông Hóa dài 35,3 km, phía bắc và tây bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53 km, phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông dài 65 km. Có 5 cửa sông lớn (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân). Các sông này đều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh, lưu lượng lớn, hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng giảm nhiều, lượng phù sa không đáng kể. Nước mặn ảnh hưởng sâu vào đất liền (15-20 km). Đất đai Thái Bình phì nhiêu màu mỡ, nổi tiếng 'bờ xôi ruộng mật' do được bồi tụ bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Hệ thống công trình thủy lợi tưới tiêu thuận lợi, góp phần làm nên cánh đồng 14 - 15 tấn/ha và đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp để xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha trở lên. Tổng diện tích tự nhiên 153.596 ha. Trong đó: Diện tích cây hàng năm: 94.187 ha; Ao hồ đã đưa vào sử dụng: 6.018 ha. Hầu hết đất đai đã được cải tạo hàng năm có thể cấy trồng được 3-4 vụ, diện tích có khả năng làm vụ đông khoảng 40.000 ha. Ngoài diện tích cấy lúa, đất đai Thái Bình rất thích hợp cho các loại cây: Cây thực phẩm (khoai tây, dưa chuột, sa lát, hành, tỏi, lạc, đậu tương, ớt xuất khẩu), cây công nghiệp ngắn ngày (cây đay, cây dâu, cây cói), cây ăn quả nhiệt đới (cam, táo, ổi bo, vải thiều, nhãn, chuối), trồng hoa, cây cảnh v.v Tiềm năng và nguồn lợi thủy sản là một trong những thế mạnh của tỉnh Thái Bình. Thái Bình có 3 thủy vực khác nhau: nước ngọt, nước lợ, nước mặn. - Nước mặn chiếm khoảng 17km2 chủ yếu dành cho hoạt động khai thác thủy sản. Tổng trữ lượng hải sản vùng ven biển Thái Bình khoảng 26.000 tấn. Trong đó trữ lượng cá 24.000 - 25.000 tấn, tôm 600 - 1.000 tấn, mực 700 - 800 tấn. Khả năng khai thác tối đa cho phép 12.000 -13.000 tấn. Các loài khai thác chính là cá Trích, cá Đé, cá Khoai, cá Đối, cá Vược.... các loài tôm: tôm Vàng, tôm Bộp, tôm He... Hiện tại mới duy trì các hoạt động đánh bắt nhỏ, khai thác tự nhiên, phần lớn là nguồn cung cấp nguyên liệu để chế biến các mặt hàng truyền thống như nước mắm, mắm tôm và chế biến thức ăn thủy sản. (Nguồn: thaibinh.gov.vn)
|
|
|||||||||||||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||||||||||||||
Hà Tây Hà Tây nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và sông Hồng thuộc vùng châu thổ sông Hồng. Diện tích: 2.142,75 km2. Do đặc điểm địa hình, Hà Tây hình thành 3 vùng: Vùng đồng bằng, đất đai màu mỡ, có điều kiện thâm canh cây lúa nước cho năng suất cao, phát triển rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng trung du tiềm năng lớn về cây công nghiệp trồng rừng, cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc. Vùng núi: Trồng rừng với nhiều lâm sản quý, phù hợp với nhiều loại cây ăn quả, cây dược liệu giá trị cao. Tài nguyên khoáng sản chứa trong các vùng đó có: đá vôi, đá đỏ, nước khoáng... Cùng với nông nghiệp, Hà Tây nổi tiếng đất trăm nghề thủ công mỹ nghệ, mộc, rèn, thêu, ren và đặc biệt là lụa tơ tằm Hà Đông. Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản thực phẩm có nhiều triển vọng. Nhiều cảnh quan kỳ thú đã cho Hà Tây nhiều hứa hẹn ngành du lịch phát triển: Núi Thầy (Quốc Oai), Tản Viên Sơn (Ba Vì) gắn liền với truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh và đặc biệt thắng cảnh Hương Sơn (Mỹ Đức) đã được mệnh danh "Nam thiên đệ nhất động" tiếp đến Đồng Mô - Ngải Sơn - Suối Hai và tất cả đã tạo thành 3 cụm du lịch liên hoàn Sơn Tây - Ba Vì, Hương sơn, Hà Đông và vùng phụ cận. Vùng đồi núi phía tây có diện tích tự nhiên 704 km2, chiếm 1/3 diện tích toàn tỉnh. Vùng núi có độ cao tuyệt đối 300 m trở lên đến độ cao nhất là đỉnh núi Ba Vì. ở đây có rừng Quốc Gia Ba Vì với diện tích 74 km2. Các núi đá vôi tập trung ở vùng tây nam tỉnh (thuộc huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức) với nhiều hang động đẹp. Vùng đồi gò có diện tích trên 530 km2, chủ yếu là đồi thấp (độ cao trung bình 100 m) xen lẫn các thung lũng.Vùng đồng bằng phía đông có diện tích 1.444 km2 chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh. Độ cao trung bình từ 5 - 7 m so với mặt biển. Địa hình vùng này mang đặc trưng đồng bằng Bắc Bộ ô trũng đê viền. Khí hậu: Hà Tây có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, có mùa đông khô lạnh. Vùng đồng bằng có độ cao trung bình 5 - 7 m, chịu ảnh hưởng của gió biển, khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm 23,8 C; lượng mưa trung bình 1700 - 1800 mm. Vùng đồi gò có độ cao trung bình từ 15 m - 50 m. Khí hậu lục địa có ảnh hưởng gió Lào, nhiệt độ trung bình 23,5 C, lượng mưa trung bình 2.300 - 2.400 mm. (Nguồn: hatay.gov.vn) |
|
|||||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||||||
© TRANG TIN ĐIỆN TỬ VIỆT LINH WWW.VIETLINH.COM.VN WWW.VIETLINH.VN ĐI CÙNG NHÀ NÔNG |